Showing posts with label TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU THI HÀNH ÁN DÂN SỰ. Show all posts
Showing posts with label TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU THI HÀNH ÁN DÂN SỰ. Show all posts

Wednesday, June 1, 2016

BÀI TẬP TÌNH HUỐNG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - CÓ ĐÁP ÁN

Trả lời mang tính tham khảo

PHẦN BÀI TẬP TÌNH HUỐNG - KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Bài tập 1

Trong một vụ án ly hôn giữa C và D, C được nhận toàn bộ tài sản của hai vợ chồng là căn nhà 7 tầng giá trị 6 tỷ và C phải thanh toán cho D số tiền chênh lệch tài sản là 3 tỷ và phải cấp dưỡng nuôi cháu E là 3 triệu/tháng cho D. D có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền C phải trả cho D là 3 tỷ và khoản cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu, Chấp hành viên M đã xác minh được hiện C là bác sĩ bệnh viện K có mức lương hàng tháng là 7 tr, tiền phụ cấp là 2.2 tr. Tài sản của C gồm 1 chiếc xe máy trị giá 55 tr và căn nhà C đang ở có giá trị 6 tỷ. Hết thời gian tự nguyện C không tự nguyện thi hành án.
Câu hỏi: Lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với C ?
Trả Lời: Thứ nhất là khấu trừ thu nhập của C để cấp dưỡng cho cháu E  theo điều 78 LTHADS 2014. Hai là kê biên nhà ở để thanh toán cho D số tiền 3 tỷ theo điều 95 BLTHADS 2014.

Bài tập 2
Bản án dân sự số 01/DS-ST tuyên ông A phải trả nợ cho bà B số tiền là 660 triệu. Xác minh tài sản của ông A thì thấy hiện ông A đang là chuyên viên thuộc Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Yên Bái có mức lương là 8 triệu/tháng. Tài sản hiện nay thì ông A có một căn nhà có giá trị khoảng 1,8 tỷ, trong nhà ông có một ti vi LG 60 inch còn khoảng 80% giá trị sử dụng, một xe ô tô Morning có giá trị khoảng 320 triệu hàng ngày ông sử dụng để đi làm. Ngoài ra, ông A không còn tài sản nào khác. Chấp hành viên M ra quyết định khấu trừ 30% mức lương của ông A để thi hành án.
Câu hỏi: Hãy nhận xét việc làm của Chấp hành viên M ?
Trả lời:
Việc làm của chấp hành viên khấu trừ vào lương của ông a là không hợp lý bởi theo ( điểm c khoản 2 điều 78 blthads ) thì việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong trường hợp: khoản tiền thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người thi hành án không đủ để thi hành án.
Trong tình huống trên khoản tiền mà người thi hành án rất lớn, trong khi đó ông A còn có 1 căn nhà trị giá 1,8 tỷ. vậy nên việc làm của chấp hành viên m là chưa hợp lí.
Bài tập 3
L gửi đơn yêu cầu Chi cục THÁDS quận CG thi hành bản án số 118/DSPT buộc D phải hoàn trả căn nhà 4 tầng diện tích 112m2 tại đường Tô Hiệu. Sau khi Chi cục THÁDS quận CG tiến hành kê biên và hoàn trả căn nhà cho L thì L cố ý không nộp phí thi hành án số tiền 193tr.
Câu hỏi: Chi cục THÁDS quận CG sẽ phải xử lý như thế nào trong tình huống trên ?
Trả lời:Theo khoản 4 điều 46 nghị định 62/2015 NĐ-CP mức phí, thủ tục thu nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án.
Quy định: “cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thu phí thi hành án khi chi trả tiền hoặc giao tài sản cho người được thi hành án và cấp biên lai thu phí thi hành án.
Người được thi hành án không nộp phí thi hành án thì cơ quan thu phí có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế để thu phí thi hành án, kể cả việc bán đấu giá tài sản đã giao cho người được thi hành án để đảm bảo thu hồi tiề phí thi hành án. Chi phí định giá, bán đấu giá tài sản để thu phí do người được thi hành án chịu.
Bài tập 4
UBND huyện B ban hành quyết định cưỡng chế tháo dỡ công trình xây dựng trái phép của ông X và bị ông X khiếu nại đến Chủ tịch UBND. Tuy nhiên, kết quả giải quyết theo hướng bác yêu cầu khiếu nại của ông X và giữ nguyên quyết định tháo dỡ công trình. Không đồng ý với việc giải quyết của Chủ tịch UBND huyện B, ông X đã khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án. Tòa án đã tuyên hủy quyết định cưỡng chế tháo dỡ của UBND huyện B và UBND huyện B có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông X là 40 triệu.
Câu hỏi: Cơ quan THÁDS có quyền thi hành án trong trường hợp này không?
Trả lời:Cơ quan thi hành án dân sự  trong  trường hợp này có quyền thi hành án. Vì bản án đã tuyên ( có hiệu lực pháp luật) và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Bài tập 5
Đương sự yêu cầu thi hành án đối với bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang. Vụ việc này đã do Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê xét xử sơ thẩm.
Câu hỏi: Cơ quan THÁDS tại đâu có thẩm quyền thụ lý và giải quyết yêu cầu thi hành án của đương sự ?
Trả lời: Cơ quan thi hành án dân sự tại nơi có tài sản được đương sự yêu cầu thi hành án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết
Bài tập 6
Tòa án quận Gò Vấp, tp.HCM tuyên Nguyễn Văn Dũng cư trú tại phường Hà Sơn, quận Gò Vấp phải nộp tiền án phí là 5 triệu và tiền phạt là 1 tỷ. Qua xác minh sơ bộ được biết Dũng đã chuyển vào quận 10, tp.HCM để làm ăn sinh sống. Tại địa phương Dũng không có bất kỳ tài sản nào. Căn cứ biên bản xác minh, Chi cục THÁDS quận Gò Vấp đã ủy thác việc thi hành án đến Chi cục THÁDS quận 10 để tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, Chi cục THÁDS quận 10, đã hoàn trả lại hồ sơ ủy thác cho Chi cục THÁDS Gò Vấp.
Câu hỏi: Anh (chị) hãy nêu rõ lý do Chi cục THÁDS quận 10 trả lại hồ sơ ủy thác thi hành án ?
Trả lời: Lý do Chi cục THADS  quận 10 trả lại hồ sơ ủy thác là bởi vì ở quận 10 Nguyễn Văn Dũng không có bất kì tài sản nào để thi hành án ( khoản 1 điều 55 luật thads )


Bài tập 7
Theo bản án hình sự sơ thẩm thì A phải nộp 3 triệu án phí hình sự sơ thẩm, 40 triệu tiền phạt và 300 triệu tiền thu lời bất chính để sung công. Quá trình thi hành án, Cơ quan THÁDS đã thu được 80 triệu tiền thu lời bất chính và nộp sung công quỹ nhà nước. Sau đó, Phong không có điều kiện để thi hành án nữa.
Câu hỏi: Chấp hành viên sẽ phải giải quyết như thế nào trong trường hợp này ?
Trả lời: Chấp hành viên yêu cầu Thủ trưởng cơ quan THA ra quyết đĩnh hoãn THA théo quy định tại: điểm C khoản 1 Điều 48 luật THADS 2014.
Bài tập 8
Bản án tuyên doanh nghiệp A phải trả cho doanh nghiệp B số tiền 4,8 tỷ. Sau khi bản án có hiệu lực, doanh nghiệp B đã làm đơn yêu cầu thi hành án. Sau đó, doanh nghiệp B có văn bản từ bỏ quyền lợi đối với số tiền trên và không yêu cầu doanh nghiệp A phải tiếp tục thi hành nghĩa vụ trên.
Câu hỏi: Cơ quan THÁDS sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp này ?
Trả lời: Cơ quan THADS sẽ đình chỉ thi hành án.  Trong các quy định đình chỉ thi hành án có quyđịnh:”đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục thi hành án,  trừ trường hợp việc điình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ 3”
Trong tình huống trên thỏa mãn căn cứ để đinh chỉ thi hành án.
Bài tập 9
Bản án ngày 15/6/2014 của Tòa án tỉnh NĐ tuyên C phải trả H 5 tỷ và lãi suất chậm thi hành án theo quy định của pháp luật. Sau khi H có đơn yêu cầu thi hành án, ngày 28/7/2014, Cục THÁDS tỉnh NĐ ra Quyết định thi hành án. Ngày 04/8/2014, C đến Cục THÁDS nộp đủ số tiền 5 tỷ và lãi suất chậm thi hành án.
Câu hỏi: Việc THÁDS được xác định kết thúc từ thời điểm nào ?
Trảlời: Điều 52 luật thi hành án dân sự quy định về việc kết thúc thi hành án Trường hợp trên  C đã đến Cục THADS  nộp đủ sốt iền và lãi xuất chậm thi hành án theo bản án vào ngày  04/08/2014 thì việc thi hành án được xác định kết thúc vào ngày 04/8/2014 ( khi C nộp song phải có xác nhận của cơ quan Thi Hành Án Dân sự

Bài tập 10
Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án tp.H, tuyên ông A phải trả cho bà B 10 tỷ và lãi suất chậm thi hành án. Bà B có đơn yêu cầu thi hành khoản 10 tỷ và lãi suất chậm thi hành án. Chi cục THÁDS tp.H đã ra quyết định thi hành án đối với đơn yêu cầu của bà B. Tuy nhiên, sau đó bà B lại có đơn đề nghị Chi cục THÁDS tp.H không thi hành án khoản 10 tỷ và lãi suất chậm thi hành án nữa.
Câu hỏi: Chi cục THÁDS tp.H sẽ phải giải quyết như thế nào và hậu quả pháp lý sau đó ?
Trảlời:Chi cục thi hành án dân sự tp.H sẽ căn cứ vào đơn đền ghị của bà B để đình chỉ thi hành án dân sự.
Hậu quả pháp lý : sau khi có quyết định đình chỉ thi hành án, các hoạt động thi hành án dân sự được ngừng hẳn.
                                                Bài tập 11
Bản án dân sự sơ thẩm ngày 30/6/2009 của Tòa án tỉnh B tuyên ông T phải trả bà C 300 triệu và lãi suất chậm thi hành án. Bà C có đơn yêu cầu thi hành án, Cục THÁDS tỉnh B đã ra quyết định thi hành án, ông T đã trả cho bà C 250 triệu. Bà C sau đó có đơn yêu cầu không tiếp tục thi hành án khoản 50 triệu và lãi suất chậm thi hành án nữa.
Câu hỏi: Cục THÁDS tỉnh B sẽ phải giải quyết như thế nào và hậu quả pháp lý sau đó ?  (Giống câu 10)



Bài tập 12
Bản án dân sự phúc thẩm ngày 20/3/2014 của Tòa án tỉnh Yên Bái tuyên: ông A phải trả cho bà B 50 triệu, bà C 60 triệu, bà D 80 triệu, bà E 90 triệu và lãi suất chậm thi hành án. Sau đó, bà B, C, D, E có đơn yêu cầu thi hành án. Cục THÁDS đã ra quyết định thi hành án. Quá trình thi hành án, bà E có đơn không yêu cầu thi hành án nữa.
Câu hỏi: Cục THÁDS sẽ phải giải quyết như thế nào và hậu quả pháp lý sau đó ?
Trả lời: Cúc THADS sẽ vẫn tiếp tục THA với ông A để thực hiện nghĩa vụ với bà B C D.
Hậu quả pháp lý: Chấm dứt nghĩa vụ của ông B với bà E, chấm dứt hoạt động THA.
Bài tập 13
Ông A bị tòa án tuyên buộc phải bồi thường 2 tỷ cho ông B. Ông A và ông B thỏa thuận, ông A gán toàn bộ nhà 3 tầng có diện tích 35m2 (định giá 3,5 tỷ) là tài sản chung của vợ chồng ông A, còn ông B trả lại ông A 1,5 tỷ.
Câu hỏi: Chấp hành viên có chấp nhận sự thỏa thuận này hay không ? Tại sao ?
Trả lơi: Chấp hành viên k chấp nhận sự thỏa thuận vì ngôi nhà là tài sản chung của vợ ck ông A (Trừ trường hợp vk ông A đồng ý cho ck mình lấy ngôi nhà để thực hiện nghĩa vụ với ông B)
Bài tập 14
Công ty M phải bồi thường cho công ty N là 20 tỷ. Sau đó, công ty N có đơn yêu cầu thi hành án. Trong quá trình giải quyết thi hành án, giám đốc công ty M và giám đốc công ty N đã tự thỏa thuận với nhau trả tiền riêng cho nhau thông qua tài khoản bí mật.
Câu hỏi: Thỏa thuận của hai giám đốc trên có được cơ quan THÁDS chấp nhận không ? Tại sao ?
Trả lời:Cơ quan thi hành án dân sự  trong  trường hợp này có quyền thi hành án. Vì bản án đã tuyên ( có hiệu lực pháp luật) và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bài tập 15
Bản án tuyên trường tiểu học M phải trả cho ông A số tiền 900 triệu. Hàng tháng ngân sách nhà nước cấp cho trường tiền lương cho cán bộ, công chức và chi phí khác phục vụ cho công tác đào tạo là 140 triệu. Trường M còn có 40 bộ máy tính có giá trị khoảng 260 triệu và 1 ô tô có giá khoảng 350 triệu và những tài sản này đều do ngân sách cấp để phục vụ công tác đào tạo của trường.
Câu hỏi: Chấp hành viên được phép kê biên tài sản nào ?
Trả Lời: Chấp hành viên không được phép kê biên các tài sản trên căn cứ Khoản 1,điểm b Khoản 3 điều 87 Luật THADS 2014 Tài sản không được kê biên.

Bài tập 16
Do lo ngại nhà ông B xây dựng cao tầng ngay bên cạnh sẽ gây ảnh hưởng đến ngôi nhà của mình, nên ông A muốn lập một văn bản ghi nhận sự kiện trước khi ông B đào móng.
Câu hỏi: Ông B sẽ phải yêu cầu Luật sư hay Chấp hành viên trong trường hợp này ? Tại sao ?
Trả Lời: Ông B sẽ chỉ nên yêu cầu luật sư tư vấn thôi. vì  Chấp hành viên là chấp hành các phán quyết trong bản án, quyết định của tòa án để thi hành án. Thứ hai đây giống như việc ông B muốn ghi nhận một sự kiện trước khi làm thay đổi nó cho nên ông B tìm đến luật sư sẽ hợp lý hơn.
Bài tập 17
Bản án tuyên ông A phải trả cho ông B số tiền 3 tỷ. Ông B đã làm đơn yêu cầu thi hành án. Do là thi hành án theo dạng theo đơn yêu cầu nên phía cơ quan THÁDS yêu cầu ông B cũng cấp thông tin về thu nhập của ông A. Qua thông tin tìm hiểu ông B được biết ông A có tài khoản tại ngân hàng Z. Ông A đã tự xác minh nhưng không thành công do phía ngân hàng Z từ chối hợp tác với ông A.
Câu hỏi: Ông B có thể nhờ chủ thể nào tiến hành xác minh thông tin tài khoản của ông A
Trả lời: Trong trường hợp này ông B có thể nhờ cơ quan THADS cụ thể hơn là Chấp hành viên xác minh thông tin tài khoản của ông A.Trên thực tế việc xác minh thông tin của người phải THA là giai đoạn mà khó khăn nhất của THADS nên việc để ông B tự xác minh thông tin là thiếu khả thi.
Bài tập 18
Bản án sơ thẩm dân sự tuyên B phải trả cho A 100 triệu. Sau khi bản án có hiệu lực, A mong muốn bản án được thi hành. Do không am hiểu pháp luật nên A đến nhờ Luật sư giúp đỡ.
Câu hỏi: Là Luật sư, anh (chị) sẽ tư vấn cho A thực hiện bản án này bằng những cách thức gì ? Theo anh (chị) cách thức nào sẽ hiệu quả nhất và tại sao ?
Trả Lời: Là luật sư ta có thể tư vấn cho A
1.     Gửi đơn yêu cầu THA đến Tòa án nơi xét sử sơ thẩm yêu cầu được THA
2.     Gặp B để thỏa thuận THA
Cách thức hiệu quả nhất là: Thỏa thuận THA.

Bài tập 19
Bản án phúc thẩm dân sự số 02/2016 hủy bản án dân sự sơ thẩm số 10/2015 tuyên B phải bồi thường cho A 500 triệu. Sau khi ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu và đang trong quá trình thi hành án thì bản án trên bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy.
Câu hỏi: Chấp hành viên phải giải quyết như thế nào trong trường hợp trên
Trả lời: Chấp hành viên tiếp tục THA theo quyết định của giám đốc thẩm
Bài tập 20
Bản án dân sự sơ thẩm 04/2014 tuyên buộc A phải bồi thường cho B 900 triệu. Sau đó, B có đơn yêu cầu thi hành án. Trong quá trình thi hành án  thì A không còn khả năng thi hành án. A mới chỉ thực hiện được nghĩa vụ 200 triệu. Còn lại số tiền 700 triệu thì A không còn khả năng thực hiện.
Câu hỏi: Anh (chị) sẽ giải quyết như thế nào trong trường hợp này ?
Trả lời : Do A không còn khả năng thực hiện nốt phần nghĩa vụ thi hành án còn lại là 700 triệu đồng nên B có thể thỏa thuận với Avề việc miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ số tiền đó. Hoặc A gửi đơn yêu cầu tòa án xem xét ra quyết định miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ số tiền còn lại mà B có nghĩ vụ phải trả  cho A   
Bài tập 21
Sau khi bản án sơ thẩm kinh doanh thương mại có hiệu lực, A nộp đơn yêu cầu thi hành án đối với B. Đồng thời khi nộp đơn yêu cầu thi hành án, A còn làm văn bản yêu cầu Cơ quan THÁDS áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản của B và kèm theo văn bản yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của B.
Câu hỏi: Cơ quan THÁDS sẽ phải giải quyết như thế nào trong trường hợp này
Trả Lời: Đầu tiên, cơ quan THADS sẽ phải tiến hành xác minh điều kiện THA của B, xem xét thấy B có tài khoản trong ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng hay ko. Nếu có thì cơ quan THADS ra quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản theo đơn yêu cầu của A để tránh việc B tẩu tán tài sản. Còn đơn yêu cầu của A áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ ngay tiền trong tài khoản của B không được chấp nhận, bởi vì biện pháp cưỡng chế chỉ được cơ quan THADS áp dụng sau thời gian tự nguyện THADS mà người phải THA không thực hiện nghĩa vụ THA. Trường hợp này B vẫn đnag trong thời gian tự nguyện THA nên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế của A ko được xem xét
Bài tập 22
Sau khi Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ chiếc ô tô và giấy đăng ký phương tiện của B ­- người phải thi hành án, thì A - người được thi hành án tiếp tục yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, cưỡng chế trả vật, chuyển quyền sử dụng đất.
Câu hỏi: Cơ sở nào áp dụng biện pháp cưỡng chế trên ?
Trả lời: Cơ sở để áp dụng biện pháp cưỡng chế trên là :
+ B có nghĩa vụ trả lại tài sản cho A
+ có điều kiện thi hành nhưng B ko tự nguyện thi hành.
+ ngăn chặn B tẩu tán tài sản.
Bài tập 23
Bản án dân sự phúc thẩm buộc B phải trả cho A số tiền 700 triệu. Sau khi ra quyết định thi hành án theo đơn, Chấp hành viên K được phân công và đã tổ chức xác minh điều kiện thi hành án của B. Kết quả cho thấy, B không có bất cứ tài sản nào đáng giá để thi hành án, thu nhập cũng thất thường không ôn định. Tài sản duy nhất của B có được là căn nhà đang ở với giá trị ước tính khoảng 3 tỷ đồng.
Câu hỏi: Chấp hành viên K có thể kê biên ngôi nhà trên của B hay không ? Tại sao ?
Trả lời: Chấp hành viên K có thể kê biên căn nhà. Bởi vì:
Căn cứ khoản 1, điều 95, LTHADS.

Bài tập 24
Bản án dân sự phúc thẩm số 03/2015 tuyên buộc B phải trả cho A số tiền 4 tỷ. A có đơn yêu cầu thi hành án. Thủ trưởng cơ quan THÁDS ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu và phân công Chấp hành viên P chịu trách nhiệm tổ chức thi hành bản án đó. Tuy nhiên, khi Chấp hành viên P gặp mặt người phải thi hành án B, thì B đã từ chối làm việc và yêu cầu Thủ trưởng cơ quan THÁDS phải thay đổi Chấp hành viên P với lý do, Chấp hành viên P đã từng tham gia với tư cách người làm chứng trong vụ án giữa A và B. Thủ trưởng cơ quan THÁDS từ chối yêu cầu thay đổi Chấp hành viên P của B.
Câu hỏi: Nhận xét quyết định của Thủ trưởng cơ quan THÁDS ? Tại sao ?
Trả lời: Thủ trưởng cơ quan chấp nhận yêu cầu thay đổi chấp hành viên của B theo điểm b khoàn 1 điều 10 nghị định 62.
Bài tập 25
Bản án dân sự sơ thẩm tuyên A phải trả cho B số tiền 20 tỷ. B có đơn yêu cầu thi hành án. Chấp hành viên đã quy định cho các bên thời hạn 10 ngày để tự nguyện thi hành án. Kết thúc thời hạn tự nguyện, A vẫn không chịu thi hành nghĩa vụ nên Chấp hành viên đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ và sau đó quyết định cưỡng chế kê biên ngôi nhà của A. Trong quá trình cưỡng chế kê biên ngôi nhà thì A lại thỏa thuận được với B với nội dung A sẽ trả dần số tiền phải thi hành án cho B. Cụ thể hai bên thỏa thuận A sẽ trả mỗi tháng 1 triệu cho B, cho đến khi hết số tiền 20 tỷ.
Câu hỏi: Chấp hành viên có chấp nhận thỏa thuận giữa hai bên hay không ? Tại sao ?
Trả Lời: Chấp hành viên không chấp nhận thỏa thuận giữa hai bên bởi việc 2 bên thỏa thuận mỗi tháng 1 triệu để trả nợ số tiền 20 tỷ sẽ dẫn đến việc thi hành án sẽ rất dài chấp hành viên không thể giám sát đc( để giám sát chắc phải qua mấy chục người giám sát viên^_^). Cũng như  việc thi hành án dài sẽ dễ dẫn đến nhiều vấn đề phát sinh (VD: khoản a,b điều 50 Luật THADS).

Bài tập 26
A phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho B và cả hai đều cư trú tại huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Để gây khó khăn cho quá trình thi hành án, A đã ủy quyền thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho K hiện đang cư trú tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Việc ủy quyền thực hiện nghĩa vụ thi hành án giữa A và K được lập thành văn bản và đã được công chứng tại Phòng công chứng số 1 huyện Tuần Giáo. Khi Chấp hành viên đến yêu cầu A làm việc thì A đưa ra văn bản ủy quyền công chứng và yêu cầu Chấp hành viên phải làm việc với K.
Câu hỏi: Chấp hành viên sẽ phải giải quyết như thế nào trong trường hợp này ?
Trả Lời: Điều đầu tiên chấp hành viên phải xem xét việc công chức văn bản ủy thác của A đã đúng pháp luật chưa. 
Nếu đúng thì chấp hành viên thông báo với thủ trưởng cơ quan thi hành án để ủy thác thi hành án tới cơ quan thi hành án huyện Tiên Lãng (Điều 55+56).
Nếu không thì chấp hành viên trực tiếp làm việc với A.

Bài tập 27
Bản án Dân sự phúc thẩm buộc A phải trả cho B số tiền 600 triệu đồng. Sau khi B có đơn yêu cầu thi hành án, Chấp hành viên C được phân công giải quyết việc thi hành án theo đơn trên. Tuy nhiên, trong quá trình xác minh thì Chấp hành viên C không thể xác minh được địa chỉ và tài sản của A.
Câu hỏi: Chấp hành viên sẽ phải ra quyết định gì trong trường hợp này ? Tại sao ?
Trả Lời: Chấp hành viên thông báo với thủ trưởng cơ quan thi hành án để ra quyết định hoãn thi hành án theo điều 48 tại khoản 1 ý b. Chấp hành viên không được ra quyết định gì vì theo điều 20 chấp hành viên chỉ được phép ra quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biễn pháp cưỡng chế thi hành án mà để có thể dụng nó thì phải xác định được tài sản và địa chỉ của người phải thi hành án.

Bài tập 28
Bản án sơ thẩm kinh doanh thương mại buộc M phải trả N số tiền 400 triệu đồng. Sau khi N có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan THÁDS đã ra quyết định thi hành án theo đơn. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc thông báo về thi hành án thì M từ chối không nhận các thông báo của cơ quan THÁDS.
Câu hỏi: Người thực hiện việc thông báo phải giải quyết như thế nào trong tình huống này ?
Trả lời: Theo điều 40 tại khoản 2 trường hợp người được thông báo từ chối nhận văn bản thông báo thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chức kiến và thực hiện việc niêm yết công khai theo điều 42.
Bài tập 29
A phải thực hiện nghĩa vụ trả cho B chiếc xe ô tô và giấy tờ xe theo bản án dân sự sơ thẩm số 02/2014. Tuy nhiên, ngay sau khi bản án có hiệu lực, A đã bán chiếc xe ô tô cho M. Số tiền từ việc bán xe, A không dùng để thực hiện nghĩa vụ thi hành án cho B.
Câu hỏi: Chấp hành viên sẽ phải giải quyết như thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho B ?
Trả Lời: Chấp hành viên thông báo cho M việc M mua chiếc xe của A là một giao dịch vô hiệu do bị lừa dối vì trước khi bán xe cho M thì bản án dân sự sơ thẩm số 02/2014 đã có hiệu lực tức là A phải thực hiện nghĩa vụ trả cho B chiếc xe ô tô và giấy tờ xe do đó A không phải chủ sở hữu của chiếc xe để có thể thực hiện việc bán nó đi. Chấp hành viên yêu cầu A trả lại tiền cho M và thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án dân sự sơ thẩm số 02.

Bài tập 30
Bản án Dân sự sơ thẩm tuyên A phải trả cho B số tiền 40 triệu đồng và trả cho C chiếc xe ô tô 4 chỗ. Hai ngày sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, B và C đều có đơn yêu cầu thi hành án.
Câu hỏi: Thủ trưởng cơ quan THÁDS sẽ phải ra mấy quyết định thi hành án trong trường hợp này ?
Trả lời: Thủ trưởng cơ quan thi hành án sẽ ra một quyết định thi hành án trong trường hợp này do theo điều 7 của Nghị định 62/ 2015/NĐ-CP tại khoản 1: “Trường hợp trong bản án, quyết định có một người phải thi hành án cho nhiều người được thi hành án và các đương sự yêu cầu thi hành án vào cùng thời điểm thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án chung cho nhiều yêu cầu.”



Read more

6 trường hợp không bị hoãn xuất cảnh khi thi hành án dân sự

Tải Nghị Định 62/2015/NĐ-CP: Tại đây
Theo Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định về tiền, tài sản mà thuộc các trường hợp theo quy định thì có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh.
Cụ thể, người phải thi hành án đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định về tiền, tài sản mà thuộc 6 trường hợp dưới đây thì có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh:

1- Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
2- Đã ủy quyền cho người khác mà người được ủy quyền có đủ tài sản và cam kết thi hành thay nghĩa vụ của người ủy quyền; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.
3- Có sự đồng ý của người được thi hành án.
4- Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án mà không có căn cứ chấp nhận yêu cầu thi hành án quá hạn.
5- Là người nước ngoài phạm tội ít nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam, có đơn cam kết thực hiện nghĩa vụ sau khi về nước. Đơn cam kết phải có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao tại Việt Nam của nước mà người đó có quốc tịch về việc đôn đốc người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành khoản thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam.
6- Có văn bản của cơ quan Công an hoặc cơ quan đại diện ngoại giao đề nghị cho xuất cảnh trong trường hợp cá nhân là người phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc không có tài sản, thu nhập tại Việt Nam nhưng không được người được thi hành án cho xuất cảnh hoặc không xác định được địa chỉ của người được thi hành án hoặc người được thi hành án là người nước ngoài đã về nước và các trường hợp đặc biệt khác. Việc xuất cảnh trong trường hợp này do Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
Nghị định quy định rõ, đối với cơ quan, tổ chức đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định thì quy định về tạm hoãn xuất cảnh được áp dụng đối với người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp người phải thi hành án ủy quyền cho người thay mặt họ giải quyết việc thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo việc thi hành án cho người được ủy quyền. Trường hợp người phải thi hành án xuất cảnh ra nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện bằng hình thức điện tín, fax, email hoặc hình thức khác nếu họ có yêu cầu và không gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự.
Việc giải tỏa tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án, quyết định đang thi hành hoặc khi căn cứ tạm hoãn xuất cảnh không còn.
Read more

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

* QUYỀN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 
Quyền yêu cầu thi hành án là quyền của đương sự (không chỉ người được thi hành án mà cả người phải thi hành án) yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Người được thi hành án cần lưu ý rằng có bản án, quyết định mà Tòa án, cơ quan có thẩm quyền tuyên mình là người được hưởng quyền và lợi ích không đồng nghĩa với việc cơ quan có thẩm quyền sẽ tự động đưa bản án, quyết định đó ra thi hành. Bởi bản án, quyết định thuộc diện được đưa ra thi hành có nhiều nội dung khác nhau về quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự (cá nhân, pháp nhân) đối với nhau, đối với người khác hoặc đối với nhà nước, và cách thức xử lý đối với các tài sản, vật chứng có liên quan đến từng vụ việc cụ thể như tịch thu, tiêu hủy, trả lại cho đương sự hoặc chủ sở hữu hợp pháp…Trong số những nội dung của bản án, quyết định thuộc diện trên, Luật Thi hành án dân sự phân biệt những loại việc thuộc trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự phải chủ động ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành và những loại việc cơ quan thi hành án dân sự chỉ được đưa ra thi hành khi có đơn yêu cầu thi hành án của đương sự.
Vậy, những nội dung nào của bản án, quyết định chỉ được đưa ra thi hành khi có đơn yêu cầu thi hành án của đương sự?
Theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự thì những loại việc do cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành là các loại việc sau đây:
a) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí;
b) Trả lại tiền, tài sản cho đương sự;
c) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;
d) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
đ) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Như vậy, trong một bản án, quyết định, nếu có những nội dung trên thì được cơ quan thi hành án tự mình đưa ra thi hành, những nội dung còn lại mà liên quan đến đương sự thì đương sự phải làm đơn mới được đưa ra thi hành. Các nội dung đó rất đa dạng, từ việc thanh toán tiền, trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tiền cấp dưỡng, đến buộc người sử dụng lao động nhận người lao động trở lại làm việc, buộc thực hiện hành vi nhất định…
Điều này xuất phát từ nhận thức rằng, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án là hai giai đoạn riêng rẽ, mỗi giai đoạn có những nhiệm vụ riêng. Việc Toà án, cơ quan có thẩm quyền công nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án được thể hiện bằng phán quyết thông qua hình thức bàn án, quyết định. Tuy nhiên, có trong tay bản án, quyết định, người thắng kiện hoặc người được hưởng quyền và lợi ích hợp pháp theo bản án, quyết định hoàn toàn có quyền quyết định việc có làm đơn yêu cầu thi hành án hay không, yêu cầu thi hành vào thời điểm nào, yêu cầu thi hành những gì, đã có những thoả thuận gì với bên phải thi hành án, đã thi hành với nhau được những gì… Do đó, pháp luật dành quyền quyết định cho người được thi hành án thể hiện ý chí của mình bằng việc yêu cầu thi hành án.

*Thời hiệu yêu cầu thi hành án 
Theo Điều 30, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Người được thi hành án có nhất thiết phải là người trực tiếp yêu cầu THA?
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự thì :
Trường hợp đương sự là người chưa thành niên, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc đương sự là pháp nhân thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của người đại diện theo pháp luật của đương sự.
Trường hợp đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của người giám hộ.
Trường hợp đương sự có uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu của người được uỷ quyền.
Cơ quan nào có thẩm quyền thi hành án dân sự?
Thẩm quyền thi hành án dân sự thuộc về cơ quan thi hành án cấp tỉnh, cơ quan thi hành án cấp huyện. Hiện nay cơ quan thi hành án cấp huyện là Chi cục Thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan thi hành án cấp tỉnh là Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Sau khi người được thi hành án gửi đơn yêu cầu thi hành án, đơn đề nghị xác minh điều kiện thi hành án đến Chi cục Thi hành án dân sự, Chi cục đã nhận đơn yêu cầu thi hành án thì Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án ra quyết định thi hành án trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sau đó phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc.
Chấp hành viên sẽ tiến hành xác minh điều kiện thi hành án. Trên cơ sở kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên sẽ giải quyết việc thi hành án theo quy định của pháp luật. Nếu người phải thi hành án có tài sản mà không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự quy định tại Điều 72 Luật Thi hành án dân sự.

*KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Theo quy chế giải quyết khiếu nại, tố cáo “khiếu nại về thi hành án dân sự là việc đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án đề nghị xem xét lại quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chính họ”
Theo thống kê trên toàn quốc, khiếu nại về khi hành án dân sự thường tập trung vào các nội dung sau:
- Chậm ra quyết định thi hành án;
- Chậm tổ chức thi hành án;
- Không tổ chức thi hành án dứt điểm mặc dù người phải thi hành án có điều kiện thi hành.
- Kê biên tài sản sai đối tượng;
- Kê biên tài sản đã được thế chấp hợp pháp (nguyên nhân chính là do Chấp hành viên không nghiên cứu kỹ hồ sơ, hiểu sai đối tượng...);
- Kê biên tài sản không tương ứng với giá trị phải thi hành án;
- Không ra quyết định hoãn thi hành án khi đã có yêu cầu hoãn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
- Khiếu nại về: Thời hiệu thi hành án; Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ thi hành án; Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án; Quyết định uỷ thác thi hành án;
- Việc tống đạt các loại giấy tờ thi hành án; tính lãi suất tiền phải thi hành án; Xin hoãn thi hành án, xin thi hành án từng phần;
- Về quyết định cưỡng chế thi hành án; Chi phí cưỡng chế thi hành án; về việc giao, bảo quản tài sản kê biên;
- Về việc thanh toán tiền, tài sản thi hành án không đúng thứ tự, chia tỷ lệ không đúng;
- Về quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
- Về quyết định cưỡng chế giao đồ vật; cưỡng chế trả nhà...
Tuy nhiên, không phải khiếu nại nào cũng đều được cơ quan có thẩm quyền thụ lý, người giải quyết khiếu nại sẽ không thụ lý nếu trường hợp khiếu nại là một trong các nội dung sau đây:
- Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;
- Khiếu nại không thuộc thẩm quyền giải quyết;
- Người khiếu nại không có năng lực hành vi đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Người đại diện không hợp pháp;
- Thời hiệu khiếu nại, thời hiệu khiếu nại tiếp đã hết;
- Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng;
- Việc khiếu nại đã được Tòa án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định của tòa án.
Đối với những trường hợp khác không nằm trong các trường hợp nêu trên, người giải quyết khiếu nại phải có trách nhiệm thụ lý đơn khiếu nại.
Thời hiệu khiếu nại
Khoản 2 Điều 140 Luật Thi hành án dân sự, qui định về Thời hiệu khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên như sau:
“a) Đối với quyết định, hành vi về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
b) Đối với quyết định về áp dụng biện pháp phong toả tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
c) Đối với quyết định, hành vi về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
d) Đối với quyết định, hành vi sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó”.

* CƯỠNG CHẾ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Theo khoản 3, điều 3 Luật thi hành án dân sự 2008, người phải thi hành án dân sự là “cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành”, nhà nước khuyến khích người có nghĩa vụ nên chủ động, tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
Thuật ngữ “cưỡng chế thi hành án dân sự" là việc Chấp hành viên được giao nhiệm vụ sử dụng quyền năng mà pháp luật trao cho để buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ của họ đối với người được thi hành án mà nghĩa vụ đó đã được ấn định trong Bản án, quyết định đã có hiệu pháp luật. Và hiển nhiên, việc cưỡng chế thi hành án dân sự là trái với ý muốn chủ quan của người phải thi hành án.
Các căn cứ để cưỡng chế thi hành án dân sự
Điều 70 Luật Thi hành án dân sự quy định:
"Căn cứ cưỡng chế thi hành án:
1. Bản án, quyết định;
2. Quyết định thi hành án;
3. Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án."
Theo quy định trên thì để có thể đưa ra cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án phải có đầy đủ các căn cứ đã nêu, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong toả tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nếu thuộc một trong các trường hợp này, Chấp hành viên chỉ cần căn cứ vào Bản án, quyết định và quyết định thi hành án để tổ chức cưỡng chế và xử lý mà không cần ban hành quyết định cưỡng chế vì theo Điều 127 Luật Thi hành án dân sự đã quy định: "Chấp hành viên xử lý theo quy định tại các điều 98, 99, 100 và 101 của Luật này đối với tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án."
Một số nguyên tắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế
Thứ nhất, tài sản bị cưỡng chế phải có giá trị ước tính tương xứng với nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án. Khoản 1 Điều 8 Nghị đinh 58/2009 /NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành dân sự về thủ tục thi hành án dân sự: “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án”
Thứ hai, Chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã được pháp luật quy định. Nguyên tắc này nhằm chỉ rõ cho Chấp hành viên phạm vi các biện pháp cưỡng chế mà Chấp hành viên được lựa chọn căn cứ vào đặc điểm nghĩa vụ của người phải thi hành án.
Theo Điều 71 Luật Thi hành án dân sự quy định thì có 6 biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, bao gồm:
"1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định".
Để giải quyết một việc thi hành án nhất định, Chấp hành viên có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế cùng một lúc trong số các biện pháp cưỡng chế đã được quy định ở trên. Đối với từng loại nghĩa vụ và từng đối tượng cưỡng chế khác nhau, Luật thi hành án dân sự đã dành từ mục 3 đến mục 10 để quy định cụ thể trình tự, thủ tục tiến hành cưỡng chế rất chi tiết và đầy đủ. Đây có thể nói là một thuận lợi rất lớn cho Chấp hành viên trong việc tổ chức thực hiện.
Thứ ba, Không tổ chức cưỡng chế trong một số thời điểm nhất định.
Nguyên tắc này đã được thể chế rõ ràng trong khoản 2 Điều 8 Nghị định số 58:
"Ngoài những trường hợp do Luật thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời hạn 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án."
Nguyên tắc này thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta, đặc điểm của những ngày này là thời gian nhạy cảm hoặc là những ngày truyền thống đã được công nhận. Ví dụ ngày 27/7 nếu đối tượng phải thi hành án là thương binh, ngày 22-12 nếu đối tượng phải thi hành án là quân nhân ....
Ngoài ra, mặc dù pháp luật không có quy định nhưng Bộ Tư pháp cũng đã có văn bản hướng dẫn và Chấp hành viên khi tổ chức cưỡng chế cũng cần lưu ý tránh những ngày diễn ra các sự kiện lớn hoặc có tầm ảnh hưởng ở địa phương hoặc trên toàn quốc như ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, ngày Đại hội Đảng ... để tổ chức cưỡng chế.
Ls Trần Xuân Tiền
Read more

Saturday, May 28, 2016

Giải thích thừa phát lại


Theo Nghị định 61/2009/ND-CP
Tại Điều 2. Giải thích từ ngữ

1.Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan.

2. Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.

3. Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật.

4. Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.

Read more

Quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án có vi hiến?


Quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án có vi hiến?
Thi hành án là một trong những hoạt động thể hiện sự nghiêm minh của Pháp luật, tính uy nghiêm của Nhà nước. Hoạt động thi hành án là hoạt động đưa các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế.

Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật. Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngoài chức năng của cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án thì cơ quan THADS giữ một vai trò đặc biệt và là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tố tụng. Mọi phán quyết của Tòa án chỉ là những quyết định trên giấy và không thể phát huy hết hiệu quả trên thực tế nếu không được thi hành đúng và đầy đủ nhất là trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, khi nước ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vô số các quan hệne-height: 130%"> giao dịch được phát sinh dẫn đến các tranh chấp cũng nhiều hơn, số lượng công việc mà các cơ quan Tư pháp phải giải quyết vì thế cũng ngày càng tăng, và tính chất cũng phức tạp hơn. Đòi hỏi tất yếu đặt ra là các cơ quan Tư pháp nói chung và cơ quan THADS nói riêng phải hoạt động sao cho đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi, xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Hiến pháp 1992 khẳng định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành".

Đó là một qui tắc Hiến định, có tính bắt buộc: “những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án ban hành”. Tuy nhiên, Khoản 5 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự lại quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án như sau: “Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định của Luật này.”.Cụ thể thời hiệu yêu cầu thi hành án được qui định là 05 năm, kể từ ngày bản án quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật (Theo điều 30 Luật Thi hành án dân sự). Nếu hết thời hiệu 05 năm người có quyền yêu cầu thi hành án mất quyền yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Toà án.

Như vậy, trong trường hợp hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì người có quyền không còn quyền yêu cầu thi hành bản án quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án nữa. Các bản án, quyết định đó của Toà án chỉ tồn tại trên bình diện giấy tờ đơn thuần (đặc biệt là đối với các bản án dân sự), các phán quyết của Toà án điều không được thi hành. Điều này, làm mất đi tính uy nghiêm của pháp luật, không có tính chất bắt buộc mọi người và cơ quan hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành như qui định của Hiến pháp nữa. Vậy, việc qui định thời hiệu yêu cầu thi hành án có vi Hiến?

Theo quan điểm cá nhân của tác giả, việc qui định thời hiệu yêu cầu thi hành án là vi phạm Hiến pháp bởi lẽ, theo qui định của Hiến pháp: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành". Sự tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành của người, tổ chức, đơn vị hữu quan được thể hiện dưới hình thức: nếu họ không tự nguyện chấp hành những phán quyết của Toà án thì phải bị cưỡng chế theo qui định của pháp luật.

Đối với qui định về thời hiệu yêu cầu thi hành án thì lại qui định thời hạn để đưa bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án ra thi hành trên thực tế, nếu hết thời hạn đó người có quyền không yêu cầu thì xem như mất quyền; và bản án, quyết định đó sẽ không được thi hành trên thực tế. Mặt khác, nếu vì người có quyền “quên” thực hiện quyền của mình trong thời hạn luật định mà tước đi quyền của họ là không công bằng đối với họ vì: trong trường hợp người được thi hành án không làm đơn yêu cầu thi hành án không nộp đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành án có quyền nộp đơn yêu cầu thi hành án để tự nguyện thi hành án, thể hiện sự nghiêm chỉnh chấp hành đối với bản án, quyết định của Toà án nhưng họ lại không “dại dột tự nguyện” mà để mặc hết thời hiệu để họ không thi hành bản án, quyết định của Toà án. Điều này, thể hiện sự chấp hành chưa nghiêm của người thi hành án và đã vi phạm Hiến Pháp.

Do đó, theo quan điểm của cá nhân tác giả, thì quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án của Luật Thi hành án đã vi phạm Hiến Pháp và cần được bãi bỏ.
Trên đây là trao đổi của tác giả, rất mong quí bạn đọc góp ý!

Huỳnh Minh Khánh
Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang 
(tdkt.toaan.gov.vn)
Read more

Bài viết phổ biến